HASEMI HASEMI Connecting knowledge - Shaping the future
Home chevron_right Bài viết chuyên sâu chevron_right Article details
Bài viết chuyên sâu

TP.Hồ Chí Minh: Từ thu hút FDI đến xây dựng năng lực công nghệ cho hệ sinh thái mới

personNart Thái calendar_today02/09/2026 visibility58 lượt xem f in link
placeTP. Hồ Chí Minh
TP.Hồ Chí Minh: Từ thu hút FDI đến xây dựng năng lực công nghệ cho hệ sinh thái mới

Vượt mốc 10 tỷ USD vốn FDI đăng ký tính đến ngày 25/8/2026, TP.Hồ Chí Minh tiếp tục cho thấy sức hút đối với dòng…

Vượt mốc 10 tỷ USD vốn FDI đăng ký tính đến ngày 25/8/2026, TP.Hồ Chí Minh tiếp tục cho thấy sức hút đối với dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh đầu tư ngày càng chuyển sang các lĩnh vực công nghệ cao, thước đo mới không chỉ nằm ở quy mô vốn thu hút mà còn ở khả năng biến dòng vốn thành năng lực sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Khi bài toán FDI chuyển từ “thu hút” sang “hấp thụ”

Tính đến ngày 25/8/2026, tổng vốn FDI đăng ký vào TP.Hồ Chí Minh đã vượt 10 tỷ USD, đạt 91,5% kế hoạch năm. Đây là tín hiệu tích cực đối với sức hấp dẫn đầu tư của Thành phố, đặc biệt trong bối cảnh không gian kinh tế được mở rộng và hệ thống công nghiệp, logistics, cảng biển, dịch vụ và công nghệ có thêm điều kiện liên kết.

Tuy nhiên, phía sau con số vốn đăng ký là một bài toán khác: bao nhiêu nguồn vốn thực sự được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và năng lực công nghệ tại địa phương?

Trong 7 tháng đầu năm 2026, Thành phố đã thu hút gần 9,8 tỷ USD vốn FDI, tương đương 89,4% kế hoạch năm. Đến ngày 25/8, con số này vượt 10 tỷ USD. Trong khi đó, tỷ lệ vốn thực hiện mới đạt 66,4% so với vốn đăng ký.

công nghệ, năng lực, TP.Hồ Chí Minh
Ông Lý Minh Tuân – Trưởng phòng Kinh tế số – Xã hội số (Sở Khoa học và Công nghệ) tại “Họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế – xã hội trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh 27/8/2026”. Ảnh: Đinh Thanh Hòa

Khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện cho thấy sức hút đầu tư chỉ là bước đầu. Với những dự án quy mô lớn, đặc biệt trong công nghệ cao, sản xuất, logistics và trung tâm dữ liệu, tiến độ triển khai còn phụ thuộc vào đất đai, xây dựng, năng lượng, giao thông, logistics, thủ tục pháp lý, nhập khẩu thiết bị và nguồn nhân lực chuyên môn.

Vì vậy, bài toán FDI của TP.Hồ Chí Minh đang dần thay đổi. Thay vì chỉ quan tâm thu hút được bao nhiêu tỷ USD, vấn đề quan trọng hơn là Thành phố có thể tạo ra môi trường như thế nào để nguồn vốn nhanh chóng đi vào sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ, hình thành chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Đặc biệt với những ngành có chu kỳ công nghệ nhanh như bán dẫn, AI hay trung tâm dữ liệu, thời gian triển khai dự án cũng trở thành một yếu tố cạnh tranh.

Hạ tầng không chỉ là đường, cảng và nhà máy. Một dòng vốn công nghệ cao không thể vận hành nếu chỉ có mặt bằng.

Nhà đầu tư cần hệ thống giao thông kết nối với cảng biển, sân bay và trung tâm logistics; nguồn điện và nước ổn định; viễn thông và dữ liệu; nguồn nhân lực; các trung tâm nghiên cứu – phát triển; cùng mạng lưới nhà cung ứng đủ năng lực.

Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP.Hồ Chí Minh đang có sự bổ trợ giữa khu vực trung tâm với thế mạnh về tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghệ và nghiên cứu phát triển; khu vực Bình Dương trước đây với nền tảng công nghiệp và chuỗi cung ứng sản xuất; cùng khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây với cảng biển, logistics, năng lượng và kinh tế biển.

Nếu được kết nối hiệu quả, đây không chỉ là sự mở rộng về địa giới mà còn có thể trở thành một không gian công nghiệp – dịch vụ – công nghệ có tính liên kết cao hơn.

Vành đai 3 TP.Hồ Chí Minh là một trong những hạ tầng có vai trò kết nối như vậy. Theo thông tin trong bài, đoạn tuyến dài 15,3 km trùng với đường Mỹ Phước – Tân Vạn tại khu vực Bình Dương trước đây đang được nghiên cứu phương án đầu tư để khai thác đồng bộ với toàn tuyến, dự kiến khởi công đầu năm 2027 và hoàn thành năm 2029.

Nhưng cùng với hạ tầng giao thông, một lớp hạ tầng khác đang ngày càng có vai trò quan trọng: hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tính toán.

Thành phố bắt đầu “điều hành bằng dữ liệu”

Quy mô không gian kinh tế càng lớn, nhu cầu quản lý và điều phối càng phức tạp. Đây là lúc dữ liệu và AI trở thành một phần của năng lực vận hành đô thị.

Theo ông Nguyễn Kiên Giang – Phó Trưởng Phòng Phòng Quản lý bảo trì và khai thác công trình giao thông (Sở Xây dựng), hiện sở đang quản lý “1.934 thiết bị camera và cảm biến, gồm 1.094 camera quan sát giao thông, 653 camera đo đếm lưu lượng, 76 cảm biến IoT quan trắc giao thông, 50 camera phát hiện sự cố tự động, 31 camera AI chuyên dụng xử lý vi phạm và 30 máy đo tốc độ tự động. Hệ thống “camera thông minh” chiếm khoảng 40,8%”.

Điểm đáng chú ý không nằm ở số lượng thiết bị, mà ở cách dữ liệu từ những thiết bị này được sử dụng.

Lưu lượng phương tiện, mật độ giao thông, tốc độ dòng xe, tình trạng ùn tắc, sự cố và tai nạn được thu thập liên tục. Dữ liệu sau đó được phân tích để hỗ trợ điều hành, kết hợp giữa tự động hóa thông minh và giám sát của con người theo mô hình Hybrid AI.

Đây chính là sự chuyển dịch từ hạ tầng thu thập dữ liệu sang hạ tầng hỗ trợ ra quyết định.

Ở một cấp độ rộng hơn, TP.Hồ Chí Minh đang thí điểm các mô hình đô thị thông minh tại Côn Đảo, Phú Nhuận và Vũng Tàu, ứng dụng Digital Twin và Trung tâm Điều hành thông minh (IOC). Thành phố cũng triển khai GIS, số hóa quy hoạch và tích hợp dữ liệu không gian đất đai trên nền tảng DPAGIS.

Khi dữ liệu giao thông, đất đai, quy hoạch, sản xuất, logistics và các hoạt động đô thị có thể được kết nối, Thành phố sẽ có thêm khả năng mô phỏng, dự báo và tối ưu hóa hoạt động trên quy mô lớn.

Đây cũng là nền tảng quan trọng nếu TP.Hồ Chí Minh muốn phát triển một hệ sinh thái công nghệ cao có khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng phức tạp của nhà đầu tư quốc tế.

Khu Công nghệ cao: nơi FDI gặp hệ sinh thái nội địa

Trong hệ sinh thái đó, Khu Công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vai trò quan trọng.

Theo thông tin Ban Quản lý Khu Công nghệ cao cung cấp phục vụ họp báo, Khu Công nghệ cao hiện có tổng vốn đầu tư tương đương 13,863 tỷ USD, trong đó vốn nước ngoài khoảng 11,005 tỷ USD và vốn trong nước khoảng 2,858 tỷ USD. Giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ cao năm 2025 đạt khoảng 23 tỷ USD.

Năm 2026, Khu Công nghệ cao đặt mục tiêu thu hút khoảng 1,6 tỷ USD vốn đầu tư, tập trung vào bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số. Những con số này cho thấy Khu Công nghệ cao đang đứng trước cơ hội trở thành một điểm hội tụ của dòng vốn công nghệ mới.

Tuy nhiên, để vốn đầu tư nhanh chóng chuyển thành năng lực sản xuất, các điểm nghẽn về thủ tục vẫn cần được tháo gỡ.

Ông Lê Thành Nhân – Trưởng Phòng Xúc tiến đầu tư (Ban Quản lý Khu Công nghệ cao) xác định “điểm nghẽn lớn hiện nay nằm ở thủ tục hành chính về đất đai sau khi nhà đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Việc giao đất, cho thuê đất, xác định nghĩa vụ tài chính và bàn giao đất liên quan đến nhiều cơ quan có thẩm quyền”.

công nghệ, năng lực, TP.Hồ Chí Minh
Ông Lê Thành Nhân – Trưởng Phòng Xúc tiến đầu tư (Ban Quản lý Khu Công nghệ cao) tại “Họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế – xã hội trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh 27/8/2026”. Ảnh: Đinh Thanh Hòa

Đề xuất được đặt ra là tăng cường phối hợp ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, theo dõi xuyên suốt tiến độ và hạn chế việc nhà đầu tư phải làm việc với quá nhiều đầu mối.

Đối với các dự án công nghệ cao, điều này đặc biệt quan trọng. Một dự án bán dẫn, AI hay trung tâm dữ liệu không chỉ cần được cấp phép, mà cần nhanh chóng tiếp cận đất đai, hạ tầng điện, dữ liệu, nhân lực và chuỗi cung ứng.

Rút ngắn thời gian thủ tục vì thế cũng đồng nghĩa với rút ngắn thời gian đưa công nghệ vào thực tế.

FDI thế hệ mới cần một hệ sinh thái mới

Một điểm khác biệt của dòng vốn FDI công nghệ cao là yêu cầu về hệ sinh thái.

Nhà đầu tư không chỉ tìm kiếm đất sạch, ưu đãi hay chi phí lao động. Họ cần các trường đại học và cơ sở nghiên cứu, đội ngũ kỹ sư, nhà cung ứng nội địa, dịch vụ công nghệ, logistics, dữ liệu, năng lượng và khả năng kết nối với thị trường. Điều này đặt doanh nghiệp Việt Nam vào một vị trí quan trọng.

Nếu doanh nghiệp trong nước chỉ đứng ngoài chuỗi cung ứng, dòng vốn FDI có thể tạo ra tăng trưởng nhưng mức độ lan tỏa công nghệ sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia cung ứng linh kiện, thiết bị, phần mềm, tự động hóa, dịch vụ kỹ thuật, logistics hoặc R&D, giá trị mà dòng vốn FDI tạo ra cho nền kinh tế sẽ lớn hơn nhiều. Đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn, đây là yêu cầu có tính nền tảng.

Một hệ sinh thái bán dẫn không chỉ gồm những doanh nghiệp trực tiếp thiết kế hay sản xuất chip. Nó còn bao gồm thiết bị, vật liệu, tự động hóa, phần mềm, kiểm thử, đóng gói, logistics, dữ liệu, nhân lực kỹ thuật và các dịch vụ hỗ trợ.

Do đó, năng lực hấp thụ FDI cũng chính là năng lực hấp thụ công nghệ của nền kinh tế. AI, dữ liệu và Digital Twin: lớp hạ tầng mới của năng lực cạnh tranh

Cùng với hạ tầng vật chất, TP.Hồ Chí Minh đang hình thành một lớp hạ tầng mới dựa trên dữ liệu.

Theo thông tin được cung cấp tại họp báo, Thành phố đang triển khai chương trình nghiên cứu, ứng dụng AI-First, nghiên cứu đầu tư hạ tầng HPC dùng chung phục vụ huấn luyện và thử nghiệm các mô hình AI.

Điều này có ý nghĩa không chỉ đối với quản trị đô thị mà còn với cộng đồng doanh nghiệp công nghệ. AI cần dữ liệu. Dữ liệu cần hạ tầng lưu trữ và tính toán. Digital Twin cần dữ liệu không gian và dữ liệu thời gian thực. Các hệ thống tự động hóa cần kết nối liên tục với dữ liệu vận hành.

Khi những lớp hạ tầng này được kết nối, Thành phố có thể tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp thử nghiệm và triển khai các giải pháp công nghệ mới. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng có thể trở thành một phần của quá trình xây dựng hạ tầng công nghệ đó thông qua các sản phẩm, nền tảng và giải pháp cung cấp cho Thành phố.

Đây là điểm mà chính quyền số, kinh tế số và hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ có thể tạo ra tác động qua lại, thay vì phát triển tách biệt.

Từ dòng vốn đến năng lực công nghệ

TP.Hồ Chí Minh hiện quy tụ khoảng 50% số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam. Năm 2026, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Thành phố lần đầu lọt Top 100 hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo năng động toàn cầu, xếp hạng 98, tăng 12 bậc so với năm 2025.

Cùng với đó, Thành phố đang đẩy mạnh đào tạo và ứng dụng AI trong hệ thống quản trị. Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức 4 lớp tập huấn cho 558 học viên; cấp 319 tài khoản trợ lý ảo AI có bản quyền tính đến ngày 26/8/2026; đồng thời tổ chức 8 lớp bồi dưỡng AI cho hơn 1.100 cán bộ, công chức thuộc 191 cơ quan, đơn vị.

Những con số này phản ánh một chuyển động quan trọng: năng lực công nghệ không chỉ được xây dựng trong doanh nghiệp mà đang dần trở thành một thành phần của năng lực vận hành đô thị. Đây cũng là điều kiện để TP.Hồ Chí Minh nâng cao khả năng hấp thụ dòng vốn FDI thế hệ mới. Một dự án công nghệ cao khi đi vào hoạt động không chỉ mang theo vốn. Nó có thể mang theo tiêu chuẩn kỹ thuật, phương thức quản trị, công nghệ sản xuất, mạng lưới nhà cung ứng và cơ hội đào tạo nhân lực.

Vấn đề là hệ sinh thái địa phương có đủ năng lực để kết nối và hấp thụ những giá trị đó hay không.

Thước đo mới của sức hút FDI

Trong giai đoạn tới, sức hấp dẫn của TP.Hồ Chí Minh có thể không còn được đo chủ yếu bằng số vốn đăng ký.

Quan trọng hơn là tỷ lệ vốn được giải ngân và đưa vào hoạt động; số lượng dự án tạo ra giá trị gia tăng cao; mức độ chuyển giao công nghệ; quy mô hoạt động R&D; chất lượng việc làm; mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và khả năng hình thành những năng lực công nghệ mới. Đặc biệt với những ngành chiến lược như bán dẫn, AI và hạ tầng số, hiệu quả cuối cùng không chỉ nằm ở việc có thêm một nhà máy hay một dự án FDI.

Giá trị lớn hơn nằm ở việc sau mỗi dự án, hệ sinh thái địa phương có thêm doanh nghiệp cung ứng, thêm kỹ sư có kinh nghiệm, thêm năng lực R&D, thêm công nghệ được chuyển giao và thêm khả năng tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất hay không.

Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với quá trình xây dựng hệ sinh thái bán dẫn mà TP.Hồ Chí Minh đang hướng tới.

Khi hạ tầng giao thông và logistics tạo ra khả năng kết nối vật chất; hạ tầng dữ liệu, AI và HPC tạo ra năng lực kết nối số; còn Khu Công nghệ cao, viện – trường và cộng đồng doanh nghiệp tạo ra năng lực nghiên cứu, sản xuất và đổi mới sáng tạo, Thành phố sẽ có điều kiện chuyển từ “điểm đến của dòng vốn” thành “một mắt xích có năng lực trong chuỗi giá trị công nghệ”.

Và đó có lẽ mới là bước chuyển quan trọng nhất của bài toán FDI trong giai đoạn mới: không chỉ thu hút vốn đầu tư, mà biến dòng vốn thành năng lực công nghệ, năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh dài hạn của TP.Hồ Chí Minh.

Keywords:
arrow_backBack to category Join HASEMI